Tiếng ồn và biên độ sóng liên quan với nhau như thế nào?


A. Mục tiêu

Nghiên cứu mối quan hệ giữa tiếng ồn và biên độ sóng

B. Dụng cụ

1 aMixer MGA

1 cảm biến âm thanh với bộ khuếch đại

1 Loa và 2 viên pin

C. Tiến hành thí nghiệm

1. Khởi động aMixer MGA bằng cách gạt công tắc on/off.

MGA

2. Kết nối cảm biến âm thanh gắn với bộ khuếch đại vào kênh 1 của MGA. Đảm bảo rằng lẫy của rắc kết nối hướng về phía vạch trắng.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ

3. Màn hình như hình vẽ sẽ xuất hiện. Đảm bảo rằng chọn “Cảm biến âm thanh”, sau đó ấn “Chạy”.

4. Cắm giắc loa vào cổng line-out trên MGA có biểu tượng bttainghe

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 1

5. Ấn nút trái trên loa để bật loa (đèn chỉ thị màu đỏ sáng). Đảm bảo rằng nút Bass chưa ấn xuống.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 2

6. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vị trí ở giữa điểm âm lượng thấp nhất và vạch thứ nhất.

7. Đặt cảm biến âm thanh cách loa 2 cm.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 3

8. Ấn nút bt21. Sau đó chọn ô “Kênh 1” rồi ấn “Chạy”. Bằng cách đó, số liệu của cảm biến âm thanh lúc im lặng sẽ trở về 0.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 4

9. Ấn nút bt14 và màn hình như hình vẽ sẽ xuất hiện.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 5

10. Dưới mục “Lựa chọn tần số ”, ấn btk1 và chọn “500 Hz”. Sau đó chọn ô vuông nhỏ phía dưới “Bật máy phát” và ấn “Chạy”.

11. Ấn nút  trên MGA để bắt đầu thu thập dữ liệu.

12. Khi sóng âm chạy kín màn hình, ấn nút bt00 để dừng thu thập dữ liệu. Ấn nút bt23 để tắt loa.

13. Ấn nút bt4 để phóng to sóng âm.

14. Ấn nút bt8 và chọn 1 điểm ở phần trên cùng của tín hiệu. Một dấu cộng sẽ xuất hiện.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 6

15. Chọn 1 điểm ở phần dưới cùng của tín hiệu. Bạn có thể sử dụng phím mũi tên để di chuyển vị trí dấu cộng nếu cần thiết.

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 7

16. 2 dòng sẽ xuất hiện ở phía trên bên trái màn hình. Dòng thứ 2 ghi “Độ lệch biên độ” cho biết độ rộng của sóng âm. Ghi lại vào bảng kết quả.

17. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vạch đầu tiên.

18. Ấn nút Bật loa 2 ở góc dưới bên phải để phát âm.

19. Lặp lại bước 11-16 (ghi lại độ rộng của sóng âm vào bảng kết quả).

20. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vạch thứ hai.

21. Ấn nút Bật loa 2 ở góc dưới bên phải để phát âm.

22. Lặp lại bước 11-16 (ghi lại độ rộng của sóng âm vào bảng kết quả).

23. Ấn nút Bật loa 2 và chú ý độ ồn của âm thanh mà bạn nghe được.

24. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vị trí ở giữa điểm âm lượng thấp nhất và vạch thứ nhất.

25. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vạch thứ nhất.

26. So sánh độ ồn của âm thanh bạn cảm nhận được với độ ồn của âm thanh tạo ra khi âm lượng ở giữa điểm thấp nhất và vạch đầu tiên. Nếu cần thiết, lặp lại bước 24-25 để so sánh.

27. Vặn nút bên phải của loa để điều chỉnh âm lượng đến vạch thứ hai.

28. So sánh độ ồn của âm thanh bạn cảm nhận được với độ ồn của 2 âm thanh trước đó. Nếu cần thiết, lặp lại bước 24-27 để so sánh.

29. Phân loại và ghi lại độ ồn tương đối của 3 âm thanh khác nhau bạn cảm nhận được là thấp, trung bình, cao vào bảng kết quả.

30. Tắt MGA và loa.

D. Kết quả

Mqh giữa tiếng ồn và biên độ 8

E. Câu hỏi

1. Dựa vào số liệu bảng 1, nêu mối quan hệ giữa biên độ sóng và độ ồn của âm thanh cảm nhận được.

2. Trong thí nghiệm này, Samuel tìm ra rằng biên độ của sóng âm A gấp 2 lần biên độ của sóng âm B. Anh ấy kết luận rằng mọi người sẽ nghe âm thanh A ồn gấp đôi âm thanh B.

Bạn có đồng ý với Samuel không? Giải thích câu trả lời.

 

Động lượng của quả bóng


A. Mục tiêu

Thu được đồ thị vận tốc – thời gian của quả bóng.

Khảo sát dạng va chạm của quả bóng khi nó chạm đế.

Tính được lực tác động lên quả bóng khi chạm đế.

B. Dụng cụ

1 aMixer MGA

1 cảm biến chuyển động

1 bộ thí nghiệm cơ học – động học

C. Tiến hành thí nghiệm

1. Khởi động aMixer MGA bằng cách gạt công tắc on/off bên hông thiết bị.

MGA

2. Kết nối cảm biến chuyển động vào kênh 1 của MGA bằng cách cắm đầu cáp của cảm biến vào kênh tương ứng.

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật

 

3. Sau khi kết nối cảm biến chuyển động vào MGA, màn hình sẽ xuất hiện bảng cho phép lựa chọn thang đo của cảm biến. Nhấn vào biểu tượng btk1 và chọn “Cảm biến chuyển động (0.15-1.6m)”.

Chuyển động thẳng biến đổi đều

4. Đảm bảo công tắc bên hông cảm biến chuyển động đã gạt xuống nấc 1.6m.

5. Đặt khung dẫn hướng lên bàn.

6. Đặt quả bóng bàn vào giữa 4 thanh kim loại và dùng ngón trỏ giữ quả bóng sao cho khoảng cách từ nó đến mặt cảm biến khoảng 15 cm như hình bên.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 1

Chuyển động thẳng biến đổi đều 2

7. Ấn nút bt0 trên MGA để bắt đầu thu thập dữ liệu.

8. Đảm bảo trên màn hình MGA xuất hiện đồ thị là một đường nằm ngang. Đồ thị này biểu diễn khoảng cách ban đầu giữa quả bóng và mặt cảm biến.

9. Nhanh tay rút ngón trỏ để quả bóng rơi tự do dọc theo các thanh kim loại.

10. Ấn nút bt00 để ngừng thu thập dữ liệu ngay khi quả bóng không nảy nữa. Trên màn hình MGA sẽ xuất hiện đồ thị tọa độ – thời gian. Lưu ý vùng trũng thứ nhất và đỉnh 2 của đồ thị.

động lượng của quả bóng 1

11. Rút cảm biến chuyển động khỏi MGA để tiết kiệm pin.

12. Nhấn vào biểu tượng bt5 và nhấn 2 lần vào vùng đồ thị tương ứng với thời điểm quả bóng bắt đầu nảy để phóng to đồ thị.

13. Nhấn vào biểu tượng bt20, ở mục “Phương pháp phân tích”, chọn “Vi phân (Động học)”, rồi nhấn “Chạy” để thu được đồ thị vận tốc – thời gian của quả bóng.

động lượng của quả bóng 2

14. Nhấn vào biểu tượng bt8, sau đó nhấn chọn điểm trên đồ thị vận tốc – thời gian tương ứng với thời điểm quả bóng di chuyển xuống với vận tốc cực đại ngay trước khi chạm đế lần đầu tiên. Màn hình xuất hiện dấu “+” như hình bên.

động lượng của quả bóng 3

15. Giá trị y cho biết vận tốc của quả bóng tại thời điểm đó. Ghi lại giá trị này vào bảng 1 trong phiếu kết quả.

16. Nhấn vào biểu tượng bt11 để xóa các thông số.

17. Nhấn vào biểu tượng bt8, sau đó nhấn chọn điểm trên đồ thị vận tốc – thời gian tương ứng với thời điểm quả bóng di chuyển lên với vận tốc cực đại khi quả bóng đạt vị trí cao nhất sau lần nảy lên thứ nhất. Màn hình xuất hiện dấu “+” như hình bên. Ghi lại giá trị y vào bảng 1.

động lượng của quả bóng 4

18. Nhấn vào biểu tượng bt11 để xóa các thông số.

19. Lặp lại các bước 17 – 18 để thu được vận tốc của quả bóng tại các thời điểm khác nhau trong bảng 1. Ghi lại các giá trị thu được vào bảng 1.

20. Tắt MGA và cất giữ các dụng cụ.

D. Kết quả

động lượng của quả bóng 5

E. Câu hỏi

1. Mô tả dạng va chạm của quả bóng khi nó chạm đế. Giải thích?

2. Tính động lượng của quả bóng tại thời điểm nó di chuyển xuống với vận tốc cực đại ngay trước khi chạm đế lần đầu tiên. Ghi lại kết quả thu được vào bảng 1. Mô tả cách làm của em?

Chú ý: Khối lượng của quả bóng vào khoảng 2.37 g.

3. Tính động lượng của quả bóng tại các thời điểm khác nhau trong bảng 1 và ghi lại kết quả thu được vào bảng 1.

4. Giả sử sự biến thiên động lượng xảy ra trong khoảng thời gian rất ngắn là 0.01 giây sau khi quả bóng chạm đế. Xác định lực tác dụng lên quả bóng khi nó chạm đế lần đầu tiên và ghi lại kết quả vào bảng 2. Mô tả cách làm và hướng của lực?

5. Tương tự, xác định lực tác dụng lên quả bóng khi nó chạm đế lần thứ 2, thứ 3 và ghi lại kết quả vào bảng 2.

6. Giả sử thay quả bóng bàn bằng quả bóng cao su và thực hiện lại thí nghiệm. Dạng va chạm và lực tác dụng lên quả bóng khi nó chạm đế có thay đổi so với thí nghiệm trước không? Giải thích?

Chuyển động thẳng biến đổi đều


A. Mục tiêu

Thu được các số liệu khi thả rơi quả bóng như vận tốc ban đầu, vận tốc, vận tốc tức thời, quãng đường đi được, thời gian chuyển động.

Khảo sát các phương trình của chuyển động thẳng biến đổi đều.

B. Dụng cụ

1 aMixer MGA

1 cảm biến chuyển động

1 bộ thí nghiệm cơ học – động học

C. Tiến hành thí nghiệm

1. Khởi động aMixer MGA bằng cách gạt công tắc on/off bên hông thiết bị.

2. Kết nối cảm biến chuyển động vào kênh 1 của MGA bằng cách cắm đầu cáp của cảm biến vào kênh tương ứng.

3. Sau khi kết nối cảm biến chuyển động vào MGA, màn hình sẽ xuất hiện bảng, cho phép lựa chọn thang đo của cảm biến. Nhấn vào biểu tượng btk1 và chọn “Cảm biến chuyển động (0.15-1.6m)”.

Chuyển động thẳng biến đổi đều

4. Đảm bảo công tắc bên hông cảm biến đã gạt xuống nấc 1.6m.

5. Đặt khung dẫn hướng lên bàn.

6. Đặt quả bóng bàn vào giữa 4 thanh kim loại và dùng ngón trỏ giữ quả bóng sao cho khoảng cách từ nó đến mặt cảm biến khoảng 15 cm như hình vẽ.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 1

Chuyển động thẳng biến đổi đều 2

7. Ấn nút bt0 trên MGA để bắt đầu thu thập dữ liệu.

8. Màn hình MGA xuất hiện đồ thị là một đường nằm ngang. Đồ thị này biểu diễn khoảng cách ban đầu giữa quả bóng và mặt cảm biến.

9. Nhanh tay rút ngón trỏ để quả bóng rơi dọc theo các thanh kim loại.

10. Ấn nút bt00 để ngừng thu thập dữ liệu ngay khi quả bóng không nảy nữa. Trên màn hình MGA sẽ xuất hiện đồ thị tọa độ – thời gian. Lưu ý vùng trũng thứ nhất và đỉnh 2 của đồ thị.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 3

11. Rút cảm biến chuyển động khỏi MGA để tiết kiệm pin.

12. Nhấn vào biểu tượng bt5 và nhấn 5 lần vào khoảng giữa đỉnh 1 và 2 trên đồ thị để phóng to đồ thị.

13. Phác họa lại đồ thị tọa độ – thời gian thu được vào phiếu kết quả.

14. Nhấn vào biểu tượng bt8, sau đó nhấn chọn điểm tăng lên của đồ thị ngay sau điểm thấp nhất của vùng trũng 1. Màn hình xuất hiện dấu “+” như hình bên. Gọi điểm này là điểm 1.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 4

15. Giá trị x cho biết thời điểm quả bóng đến điểm 1. Ghi lại giá trị này vào bảng 1 trong phiếu kết quả.

16. Tiếp tục nhấn chọn điểm ngay trước đỉnh 2 (gọi là điểm 2). Một dấu “+” khác sẽ xuất hiện. Sử dụng các nút mũi tên trên MGA để di chuyển dấu “+” tới điểm mong muốn.

17. Ghi lại giá trị x của điểm 2 vào bảng 1

18. Màn hình xuất hiện 2 số liệu ở góc trên bên trái. Lưu ý số liệu thứ 1 “Độ lệch thời gian” cho biết thời gian quả bóng đi từ điểm 1 đến điểm 2. Ghi lại giá trị này vào bảng 1 và ký hiệu là t.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 5

19. Số liệu thứ 2 “Độ lệch biên độ” cho biết quãng đường quả bóng đi được từ điểm 1 đến điểm 2. Ghi lại giá trị này vào bảng 1 và ký hiệu là s.

20. Nhấn vào biểu tượng bt11 để xóa các thông số.

21. Nhấn vào biểu tượng bt20 và trong mục “Phương pháp phân tích”, nhấn chọn “Vi phân (Động học)”. Sau đó nhấn “Chạy”. Ta sẽ thu được đồ thị vận tốc – thời gian (đường màu đỏ) của quả bóng.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 622. Nhấn vào biểu tượng bt18, sau đó tích chọn “Trục X”. Điền giá trị thời gian của điểm 1 thu được ở trên vào mục “Nhập giá trị”, và nhấn “Chạy”.

Chuyển động thẳng biến đổi đều 7

23. Ghi lại vận tốc của quả bóng tại điểm 1 vào bảng 1.

24. Nhấn vào biểu tượng bt11 để xóa các thông số.

25. Lặp lại các bước 22 – 23 để thu được vận tốc của quả bóng tại điểm 2 và ghi lại giá trị này vào bảng 1.

26. Tắt MGA và cất giữ các dụng cụ.

D. Kết quả

Phác họa đồ thị tọa độ – thời gian

Chuyển động thẳng biến đổi đều 8

Bảng 1

Chuyển động thẳng biến đổi đều 9

Chú ý: t là quãng thời gian quả bóng di chuyển từ điểm 1 đến điểm 2.

s là quãng đường quả bóng đi được từ điểm 1 đến điểm 2.

Bảng 2

Chuyển động thẳng biến đổi đều 10

E. Câu hỏi

1. Dựa vào đồ thị tọa độ – thời gian, mô tả vị trí và chuyển động của quả bóng tại điểm 1 và điểm 2.

2. Dựa vào số liệu thu được ở bảng 1, tính toán giá trị cho vế trái và vế phải của phương trình và ghi lại kết quả tương ứng vào bảng 2.

3. So sánh vế trái và vế phải tính toán được của phương trình. Hai vế có bằng nhau đúng như phương trình chuyển động không? Giải thích sự sai số (nếu có)?

 

 

Động học của phản ứng hóa học


A. Mục tiêu

Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất lên tốc độ phản ứng hóa học.

B. Dụng cụ

1 aMixer MGA

1 máy đo màu

3 cuvet

1 ống đong 100 ml

1 xi lanh 5 ml

2 cốc 250 ml

C. Hóa chất

Dung dịch Iốt 0.015 mol/dm3

Dung dịch CH3COCH3 1 mol/dm3

Dung dịch H2SO4 1 mol/dm3

Giấy thấm

D. Tiến hành thí nghiệm

1. Khởi động aMixer MGA bằng cách gạt công tắc on/off bên hông thiết bị.

2. Kết nối máy đo màu vào kênh 1 của MGA bằng cách cắm đầu cáp của cảm biến vào kênh tương ứng.

động học của phản ứng hóa học

3. Sau khi kết nối máy đo màu vào MGA, màn hình sẽ xuất hiện bảng cho phép bạn lựa chọn thang đo của cảm biến. Nhấn vào biểu tượng btk1 và chọn “Máy đo màu (A)”. Sau đó nhấn “Chạy”.

động học của phản ứng hóa học 1

4. Vặn núm trên máy đo màu ở nấc “Green (520nm)” như hình bên. Ở nấc này, máy đo màu có thể truyền và hấp thụ sắc xanh lá cây.

động học của phản ứng hóa học 2

5. Để nguồn sáng ổn định trong khoảng 1 phút.

6. Đổ nước cất đến khoảng ¾ cuvet.

7. Gạt nắp máy đo màu ra và đặt cuvet vào buồng chứa trên thân máy sao cho mặt nhẵn của cuvet đối diện với chấm trắng trong buồng chứa . Sau đó đậy nắp máy lại.

động học của phản ứng hóa học 3

8. Ấn nút bt0 trên MGA để bắt đầu thu thập dữ liệu.

9. Ấn nút bt00 để ngừng thu thập dữ liệu.

10. Nhấn vào biểu tượng bt21, tích chọn “Kênh 1” rồi nhấn “Chạy” để chuẩn hóa độ hấp thụ về giá trị 0.

động học của phản ứng hóa học 4

11. Ấn nút icon2 để bắt đầu thu thập dữ liệu. Độ hấp thụ ánh sáng lúc này đã về 0.

12. Ấn nút bt00 để ngừng thu thập dữ liệu.

13. Nhấc cuvet ra khỏi buồng chứa.

14. Nhấn vào biểu tượng icon1, dưới mục “Thời gian hiển thị”, chọn “5 phút”. Ở mục “Chế độ kiểm tra”, tích chọn “Dừng sau 5 phút” rồi nhấn “Chạy”.

động học của phản ứng hóa học 5

15. Hòa 25 ml dung dịch CH3COCH3; 25 ml dung dịch H2SO4; 50 ml dung dịch Iôt vào cốc và khuấy đều. Tạm gọi là hỗn hợp 1.

16. Dùng xi lanh hút một ít hỗn hợp từ cốc và bơm vào cuvet.

động học của phản ứng hóa học 6

17. Gạt nắp máy đo màu sang bên và đặt cuvet vào buồng chứa sao cho mặt nhẵn của cuvet đối diện với chấm trắng trong buồng chứa. Sau đó đậy nắp máy lại.

18. Ấn nút bt0 để bắt đầu thu thập dữ liệu.

19. MGA sẽ tự động ngừng thu thập dữ liệu sau 5 phút. Nhấn vào biểu tượng bt4 để phóng to đồ thị.

20. Lặp lại các bước 15 – 19 với hỗn hợp gồm 20 ml dung dịch CH3COCH3, 5 ml nước, 25 ml dung dịch H2SO4 và 50 ml dung dịch Iốt. Tạm gọi hỗn hợp này là hỗn hợp 2.

21. Tắt MGA và cất giữ các dụng cụ.

E. Kết quả

động học của phản ứng hóa học 7

F. Câu hỏi

1. Mở đồ thị biểu diễn độ hấp thụ ánh sáng của hỗn hợp 1. Sau đó nhấn vào biểu tượng bt20, dưới mục “Lựa chọn chức năng”, nhấn chọn “Hồi quy tuyến tính”. Sau đó nhấn “Chạy” để biểu diễn độ hấp thụ ánh sáng dưới dạng đường thẳng. Ghi lại giá trị R2 và hệ số độ dốc vào bảng 1.

2. Lặp lại các bước trong câu hỏi 1 với hỗn hợp 2. Ghi lại các số liệu thu được vào bảng 1

3. So sánh nồng độ các chất trong hỗn hợp 1 và hỗn hợp 2. Giải thích.

4. Dựa vào số liệu trong bảng 1, cho biết tốc độ thay đổi độ hấp thụ ánh sáng của hỗn hợp 1 có phải là một hằng số không? Giải thích? Lặp lại các bước với hỗn hợp 2.

5. Mối quan hệ giữa hệ số độ dốc và tốc độ của phản ứng hóa học là gì?

6. Dựa vào số liệu trong bảng 1 và câu trả lời ở câu 3, câu 5, rút ra kết luận về ảnh hưởng của nồng độ chất lên tốc độ phản ứng hóa học

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được phê duyệt 27/7/2017


Đây là căn cứ để xây dựng dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.

Theo Bộ GD-ĐT, chương trình tổng thể sẽ được tiếp tục xem xét để ban hành chính thức cùng với các chương trình môn học và hoạt động giáo dục theo kế hoạch công bố vào tháng 9 tới.

Chương trình GDPT tổng thể chính thức không có nhiều thay đổi so với bản dự thảo mới đây nhất (21/7) mà VietNamNet đã đưa tin, song có nhiều thay đổi so với dự thảo được công bố hồi tháng 4/2017 để lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội.

5 phẩm chất, 10 năng lực

Cụ thể, Chương trình GDPT tổng thể không có nhiều sửa đổi về quan điểm xây dựng, mục tiêu, các yêu cầu về phẩm chất năng lực cho tới định hướng về nội dung giáo dục.

Chương trình tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.

Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:

Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh.

Hai giai đoạn giáo dục

Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).

Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn.

Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. Các cơ sở giáo dục có thể tổ chức dạy học 1 buổi/ngày hoặc 2 buổi/ngày.

Cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước.

Về kế hoạch giáo dục, về cơ bản, chương trình vừa được thông qua không có nhiều thay đổi so với dự thảo gần đây nhất.

Lựa chọn ngoại ngữ từ lớp 1

Ở cấp tiểu học, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc bao gồm: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lý (ở lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm (trong đó có nội dung giáo dục của địa phương).

Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun), nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

cap-1-moi
Kế hoạch và thời lượng giáo dục cấp tiểu học theo chương trình GDPT vừa được thông qua.

Như vậy, so với dự thảo hồi tháng 4, một số môn học đã được đổi tên, một số môn gộp lại thành môn mới, một số nội dung bị bỏ khỏi chương trình (hoạt động tự học có hướng dẫn) một số nội dung được lồng vào hoạt động khác chứ không đứng riêng thành nội dung động lập (nội dung giáo dục địa phương).

Về thời lượng, so với dự thảo hồi tháng 4, tổng số tiết trong năm học ở các lớp tiểu học giảm đi so với dự thảo trước từ 62-132 tiết/năm, tùy từng lớp.

Số tiết học trung bình tuần cũng giảm 2 tiết ở lớp 1, 2 (29 so với 31 tiết/tuần), giữ nguyên ở lớp 3 (31 tiết/tuần) nhưng tăng 1 tiết ở lớp 4, 5 so với dự thảo cũ (32 so với 31 tiết/tuần).

Nội dung đáng chú ý nhất ở cấp tiểu học là môn Ngoại ngữ 1 được đưa vào thành môn học tự chọn từ lớp 1.

Ngoài ra, chương trình cũng quy định rõ, cấp tiểu học sẽ thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học. Mỗi tiết học từ 35 phút đến 40 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.

Hướng nghiệp từ cấp THCS

Ở cấp THCS, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc bao gồm: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục công dân; Lịch sử và Địa lý; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương.

Mỗi môn học Công nghệ, Tin học, Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

So với dự thảo hồi tháng 4, chương trình vừa được thông qua không có nhiều thay đổi về tên môn học (chỉ có môn Công nghệ được rút gọn từ môn Công nghệ và Hướng nghiệp).

cap-2
Các môn học và thời lượng giáo dục cấp THCS của chương trình vừa được thông qua.

Về thời lượng, tổng số tiết học trong năm của cấp THCS giảm từ 58-78 tiết/năm, tùy từng lớp. Số tiết học trung bình tuần giữ nguyên ở lớp 6, 7 nhưng giảm nửa tiết ở lớp 8, 9.

Điểm mới nhất của kế hoạch giáo dục cấp THCS chính là nội dung hướng nghiệp được yêu cầu tích hợp vào các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc.

Ở lớp 8 và lớp 9, các môn học Công nghệ, Tin học, Khoa học tự nhiên, Nghệ thuật, Giáo dục công dân, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và Nội dung giáo dục của địa phương có học phần hoặc chủ đề về nội dung giáo dục hướng nghiệp.

Thay đổi mạnh ở cấp THPT

Giống như dự thảo hôm 21/7, chương trình vừa được thông qua có sự thay đổi rất lớn ở cấp THPT.

Theo đó, chương trình không tách cấp học này thành 2 giai đoạn với 2 tính chất (dự hướng và định hướng nghề nghiệp) như dự thảo công bố hồi tháng 4 mà dồn chung thành một giai đoạn chung, thông suốt từ lớp 10 đến lớp 12.

Cụ thể, giai đoạn này bao gồm các môn học bắt buộc là Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm, Nội dung giáo dục địa phương.

Trong đó, môn Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần. Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

cap-3-moi
Nội dung và thời lượng giáo dục cấp THPT theo chương trình vừa đuọc thông qua.

Học sinh sẽ được lựa chọn môn học định hướng nghề nghiệp từ lớp 10. Các môn học được lựa chọn chia thành 3 nhóm môn, học sinh chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn học trên, mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn.

– Nhóm môn Khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật.

– Nhóm môn Khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học.

– Nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật.

Điểm thay đổi quan trọng là thời lượng các chuyên đề học tập được đưa vào từ lớp 10 và có thời lượng tăng lên đáng kể.

Theo đó, mỗi môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật có một số chuyên đề học tập tạo thành cụm chuyên đề học tập của môn học giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.

Thời lượng dành cho mỗi chuyên đề học tập từ 10 đến 15 tiết. Tổng thời lượng dành cho cụm chuyên đề học tập của một môn là 35 tiết.

Ở mỗi lớp 10, 11, 12, học sinh chọn 3 cụm chuyên đề học tập của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường.

Chương trình vừa được thông qua cũng quy định, các trường có thể xây dựng các tổ hợp môn học từ 3 nhóm môn học và chuyên đề học tập nói trên để vừa đáp ứng nhu cầu của người học vừa bảo đảm phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.

Học sinh có thể đăng ký học ở một cơ sở giáo dục khác những môn học và chuyên đề học tập mà trường học sinh đang theo học không có điều kiện tổ chức dạy.

Về thời lượng giáo dục, chương trình quy định, cấp THPT mỗi ngày học 1 buổi, mỗi buổi không bố trí quá 5 tiết học. Mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

Đồng thời, khuyến khích các trường trung học phổ thông đủ điều kiện thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.

Đi mi đánh giá trở thành điều kiện thực hiện chương trình

Chương trình vừa được thông qua nêu rõ:

Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.

Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình.

Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụ công tác phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục.

Như vậy, nội dung việc đánh giá định kỳ không còn quy định việc giao xét tốt nghiệp THPT cho các cơ sở giáo dục như trong dự thảo hồi tháng 4.

Bên cạnh đó, nội dung việc đánh giá trên diện rộng sẽ do “tổ chức khảo thí” cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chứ không phải là “tổ chức kiểm định chất lượng” như trước.

Ngoài ra, trong phần “Điều kiện thực hiện chương trình”, Chương trình vừa thông qua có bổ sung thêm nội dung về đánh giá kết quả giáo dục, với nội dung:

“Phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục phải phản ánh mức độ đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực quy định trong chương trình; hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực của học sinh.

Việc đánh giá kết quả giáo dục để công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông bảo đảm độ tin cậy, trung thực, phản ánh đúng năng lực của học sinh, cung cấp dữ liệu cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; đồng thời bảo đảm phù hợp với quyền tự chủ của cơ sở giáo dục, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội”.

Ứng dụng mô hình STEM vào chương trình phổ thông mới


Để thúc đẩy mô hình giáo dục STEM vào chương trình phổ thông sắp tới một cách hiệu quả, cần phải giải quyết các bất cập từ cơ sở vật chất, tới cách thức thi cử.

Thi trắc nghiệm khó thúc đẩy dạy học STEM

Cách thức tổ chức các kỳ thi ảnh hưởng lớn tới việc dạy và học, do đó tác động tới việc biên soạn chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới.

Nhận định này được nhiều đại biểu đề cập tại hội thảo giáo dục STEM trong chương trình GDPT mới, hôm qua 25/7.

Trong bài tham luận “Chúng ta học được gì từ giáo dục STEM“, GS.TS Đỗ Đức Thái, Thành viên Ban Phát triển Chương trình GDPT tổng thể, Chủ biên chương trình môn Toán nêu ra những lưu ý về việc này.

Ông Thái cho rằng, kiểm tra đánh giá và thi cử cần tương thích với những tư tưởng cơ bản của giáo dục STEM. Thế nhưng nếp nghĩ “thi gì học nấy” là một trở lực lớn trong việc đưa giáo dục STEM vào nhà trường phổ thông.

Bên cạnh đó, trong hoàn cảnh thực tế về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý của giáo viên, cơ sở vật chất của các nhà trường, điều kiện kinh tế-xã hội của các địa phương,… việc khai thác, áp dụng những điểm mạnh của giáo dục STEM không đơn giản.

Chúng ta đã chuẩn bị các văn bản cần thiết chỉ đạo triển khai giáo dục STEM? Cán bộ quản lí các nhà trường phổ thông có thực sự quan tâm đến giáo dục STEM hay không? Bởi nếu không thì có thể viện dẫn rất nhiều lí do để không áp dụng” – ông Thái nêu vấn đề.

kasten

Trong bài tham luận trình bày kinh nghiệm triển khai giáo dục STEM tại Trường THCS – THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), bà Nguyễn Thu Anh, hiệu trưởng nhà trường cũng nhận thấy hình thức thi như hiện nay là một “khó khăn” đối với việc triển khai giáo dục STEM.

Cụ thể, kỳ thi THPT quốc gia thi được tổ chức bằng các bài thi trắc nghiệm, trong khi STEM là sản phẩm. Từ lớp 11 là phải “nói không” với STEM để ôn luyện thi trắc nghiệm “cho thật siêu” để sắp tới thi đỗ vào một trường ĐH.

Vì vậy, thay đổi chương trình thì dứt khoát phải thay đổi đánh giá. GS Thái nói rất đúng, học sinh hiện nay học để thi thôi, mục tiêu là làm sao đỗ được ĐH. Vì vậy, thay đổi cách đánh giá thì tính khả thi trong việc triển khai GD STEM mới có thể đạt được“.

Trong phần phát biểu kết luận, GS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên Chương trình GDPT mới khẳng định, ban soạn thảo cũng nhận thức rất rõ về tác động của các kỳ thi đến chương trình.

Chương trình này đòi hỏi học sinh đi vào thực tiễn rất nhiều, các em phải tham gia các dự án nghiên cứu khoa học. Nhưng đến lúc thi mà thi chung như thế này thì chỉ ra đề kiểm tra kiến thức, kỹ năng giải bài tập thôi. Như thế, làm sao giáo viên dành thì giờ dạy học sinh theo phương pháp STEM, chú trọng thực hành được?

GS Thuyết cho biết, trong dự thảo chương trình đã quy định việc thay đổi cách thức đánh giá, bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, sau đó, Hội đồng thẩm định có ý kiến cho rằng, Luật Giáo dục hiện hành vẫn đang quy định phải thi tốt nghiệp. Nghị quyết 88 cũng đề cập đến việc đổi mới cách thi và đánh giá.

Nếu quy định ngay trong chương trình GDPT mới thì sẽ liên quan tới luật và nghị quyết.

Vì vậy, ban soạn thảo đã chuyển phần “thi tốt nghiệp, tuyển sinh các lớp đầu cấp, tuyển sinh ĐH” ở phần “điều kiện thực hiện chương trình”.

Học sinh nông thôn học STEM thế nào?

ngoài cách thức thi và đánh giá, các đại biểu cũng nêu ra nhiều băn khoăn cũng như vướng mắc khi triển khai giáo dục STEM trong chương trình GDPT mới.

Ông Tô Văn Dũng, Phó Trưởng Phòng GD-ĐT Thái Thụy (Thái Bình) cho rằng, trường học ở nông thôn sẽ gặp khó khăn về cơ sở vật chất.

Nông thôn chúng tôi đủ phòng học là quý lắm rồi chứ không có phòng học với các thiết bị rồi tích hợp này kia. Các thiết bị để dạy học STEM lại càng không có“.

Ông Dũng kể, cách đây vài tháng có một tổ chức về trường ở Thái Thụy giới thiệu về lập trình robot, học sinh rất hào hứng, phấn khỏi nhưng khi nói đến giá tiền mỗi con robot như vậy là 6-7 trăm ngàn thì học sinh đều lắc đầu vì không có tiền.

Các trường thành phố dễ xã hội hóa thì việc nhà trường đầu tư 6-7 trăm ngàn để mua một con robot cho học sinh học đơn giản, còn ở nông thôn thì rất khó. Bỏ tiền mua thì không được vì nó không nằm trong danh mục thiết bị đã được Bộ quy định“.

Bộ thực hành kết hợp Lý Hóa sinh của Addestation
Bộ thực hành kết hợp Lý Hóa sinh của Addestation

Từ đó, ông Dũng cho rằng, khi có kế hoạch triển khai nội dung giáo dục STEM trong chương trình mới, ban soạn thảo cũng phải kiến nghị Bộ GD-ĐT bổ sung các thiết bị này vào danh sách thiết bị trường học để thuận lợi cho các trường.

Một số đại biểu khác cũng nêu ra những vấn đề về tập huấn giáo viên, nhận thức của các cán bộ quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh, quy định thời lượng, đồng bộ hóa chương trình…

“Định vị” STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới

GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, việc phát triển giáo dục STEM trong chương trình mới là tất yếu vì mục tiêu của chương trình STEM cũng là hình thành những phẩm chất năng lực mà chương trình GDPT đang hướng tới.

Tuy nhiên, giáo dục STEM là một phương pháp, mô hình giáo dục, chứ không phải là một môn học.

Do đó, sẽ dạy trong các chương trình chính khóa ở các môn học STEM (Toán, Công nghệ, Tin học) theo các chủ đề từng môn hoặc tích hợp liên môn

Hoặc cũng có thể tổ chức chức theo hình thức câu lạc bộ, hoạt động nghiên cứu khoa học…

Theo GS Thuyết, dạy như hiện nay theo cách “chẻ từng chữ trong SGK để dạy” thì STEM không có chỗ, nhưng nếu học sinh tự đọc tài liệu, tự thực hành để có hiểu biết, năng lực vận dụng vào thực tiễn thì đó là giáo dục STEM.

Với việc “chương trình hóa” giáo dục STEM, sắp tới, các chương trình môn học sẽ ra chủ đề có thể dạy STEM, gợi ra phạm vi nghiên cứu khoa học của học sinh. Đây là vấn đề không chỉ của môn Công nghệ mà còn ở tất cả các môn học theo phương pháp STEM.

GS Thuyết cũng khẳng định, khi “chương trình hóa” giáo dục STEM, ban soạn thảo cũng sẽ kiến nghị các chính sách, chế độ, quy định kèm theo; từ việc định biên giáo viên, kinh phí cho tới bổ sung danh mục thiết bị và tập huấn cho giáo viên về giáo dục STEM.

 

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật


A. Mục tiêu

Nghiên cứu mối tương trợ lẫn nhau động vật và thực vật trong hệ sinh thái

B. Dụng cụ

1 aMixer MGA

1 cảm biến oxy hòa tan

1 cốc 600 ml

4 ống đong 100 cm3

1 nguồn sáng

C. Nguyên liệu

2g thực vật thủy sinh, ví dụ rong Hydrilla

Khoảng 5 con cá nhỏ

Nước ở nhiệt độ phòng

D. Tiến hành thí nghiệm

1. Khởi động aMixer MGA bằng cách gạt công tắc on/off bên hông thiết bị.

MGA

2. Kết nối cảm biến oxy hòa tan vào kênh 1 của MGA bằng cách cắm đầu cáp của cảm biến vào kênh tương ứng.

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật 1

3. Dán nhãn cho các ống đong là A, B, C, D.

4. Đổ 50 cm3 nước vào ống đong A và cho 5 con cá vào.

5. Đổ đầy nước vào cốc. Đặt đèn cách cốc khoảng 20 cm và bật đèn lên.

6. Đặt ống đong A vào cốc trong khoảng 5 phút để cá quen với môi trường mới trước khi tiến hành thí nghiệm.

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật 2

7. Sau 5 phút, nhúng cảm biến oxy hòa tan vào ống đong. Đảm bảo rằng đầu cảm biến ngập hoàn toàn trong nước.

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật 3

8. Ấn nút bt0 trên MGA để bắt đầu thu thập dữ liệu.

9. Dùng cảm biến oxy hòa tan khuấy nhẹ và liên tục trong nước cho đến khi kết quả hiển thị trên màn hình MGA ổn định.

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật 4

10. Ấn nút bt00 trên MGA để ngừng thu thập dữ liệu. Ghi lại kết quả thu được vào bảng 1 trong phiếu kết quả.

11. Sau 10 phút, lặp lại các bước 8 – 10 và ghi lại kết quả thu được vào bảng 1.

12. Lặp lại các bước 4 – 11 đối với các trường hợp sau:

Ống đong B chứa thực vật thủy sinh

Ống đong C chứa thực vật thủy sinh và 5 con cá

Ống đong D chứa nước

13. Rửa sạch cảm biến, tắt MGA và cất giữ các dụng cụ.

E. Kết quả

Sự tương trợ lẫn nhau giữa động vật và thực vật 5

F. Câu hỏi

1. Cá sản xuất hay hấp thụ khí oxy trong quá trình thí nghiệm? Giải thích?

2. Thực vật thủy sinh sản xuất hay hấp thụ khí oxy trong quá trình thí nghiệm? Giải thích?

3. Cho biết mối quan hệ giữa các yếu tố: cá, nước, thực vật thủy sinh trong thí nghiệm này?

4. Bạn hãy dự đoán kết quả nếu thực hiện thí nghiệm này trong bóng tối? Giải thích?

5. Lấy ví dụ khác về sự tương trợ lẫn nhau giữa các sinh vật trong hệ sinh thái?

 

Thiết bị thí nghiệm Lý Hóa Sinh cấp Trung học

%d bloggers like this: