Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh


Tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập

Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập (L.V. Rebrova, 1975). Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức: “Một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” (P.N. Erdonive, 1974). Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất là nói tới tích cực nhận thức, mà tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết về bản chất, quy luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được. Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải “khám phá” ra những điều mới đối với bản thân mình, dù đó chỉ là những khám phá lại những điều loài người đã biết.

Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt động của bản thân. Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ, đó là chưa nói đến tới một trình độ nhất định, thì sự học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tìm ra kiến thức mới cho nhân loại.

"Học phải đi đôi với hành"

“Học phải đi đôi với hành”

Các biểu hiện của tính tích cực học tập

Có nhiều trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình thức biểu hiện này thường đi liền với nhau. Theo G.I. Sukina có thể nêu những dấu hiệu của tính tích cực hoạt động trí tuệ như sau:

–   Học sinh khát khao tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời cho bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.

–   Học sinh nêu thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên trình bày chưa đủ rõ.

–   Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận ra vấn đề mới và vận dụng vào thực tiễn.

–   Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học

Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể học sinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên. G.I. Sukina còn phân biệt những biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt ý chí:

–   Tập trung chú ý vào vấn đề đang học

–   Kiên trì làm xong bài tập

–   Không nản trước những tình huống khó khăn

–   Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ cố làm cho xong hoặc vội vã gấp vở chờ lệnh ra chơi

Các cấp độ của tính tích cực học tập

Có thể phân biệt tính tích cực ở ba cấp độ khác nhau, từ thấp lên cao:

–   Bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên, của bạn bè. Trong hoạt động bắt chước cũng phải có sự gắng sức của thần kinh và cơ bắp

–   Tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết nhiệm vụ hay bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lí nhất

–   Sáng tạo: Học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc xây dựng những bài tập mới, hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới để chứng minh bài học.

Tất nhiên mức độ sáng tạo của học sinh là có hạn nhưng đó chính là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về sau.

Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

  • Phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học này, học sinh là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học do giáo viên tổ chức, hướng dẫn qua đó học sinh tự lực khám phá những điều chưa biết. Từ đó học sinh nắm được kiến thức kỹ năng mới, nắm được phương pháp tìm ra kiến thức kỹ năng đó, bộc lộ phát huy tiềm năng sáng tạo. Theo phương pháp này, giáo viên ngoài việc truyền đạt tri thức còn phải hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh.

Giờ thực hành môn Công nghệ tại trường THPT FPT

Giờ thực hành môn Công nghệ tại trường THPT FPT

  • Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

Trong phương pháp này, cái được gọi là vấn đề dạy học là một câu hỏi xuất hiện hay được đặt ra đối với người chưa biết câu trả lời mà phải tìm tòi sáng tạo để tìm ra câu trả lời. Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp này là:

–   Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

+ Tạo tình huống có vấn đề, phát hiện vấn đề nảy sinh.

+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết.

–   Giải quyết vấn đề:

+ Đề xuất phương án, lập kế hoạch giải quyết, thực hiện kế hoạch

–   Kết luận:

+ Thảo luận và đánh giá kết quả, khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đặt ra

+ Kết luận và đề xuất vấn đề mới

  • Phương pháp vấn đáp (Đàm thoại)

Trong phương pháp này, giáo viên đặt ra câu hỏi cho học sinh trả lời, hoặc học sinh tranh luận với nhau, với giáo viên qua đó lĩnh hội nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, có các loại vấn đáp sau:

–   Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức và trả lời, không cần suy luận.

–   Vấn đáp giải thích – minh họa: giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để học sinh dễ hiểu dễ nhớ. Phương pháp này sẽ có hiệu quả cao hơn khi có sự hỗ trợ các phương tiện nghe – nhìn.

–   Vấn đáp tìm tòi: giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp một cách hợp lí, hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện bản chất của vấn đề. Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến, tranh luận giữa giáo viên với cả lớp, giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong loại hình này giáo viên là người kích thích sự tìm tòi, học sinh tự lực phát hiện kiến thức mới

  • Phương pháp thảo luận

Phương pháp này đòi hỏi người học phải tích cực động não, phát biểu ý kiến tham qua quá trình thảo luận. Để thực hiện thành công phương pháp này, người dạy cần làm tốt những việc sau:

–   Phân chia lớp học thành từng nhóm, tạo điều kiện cho nhóm làm việc thuận lợi cùng nhau.

–   Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư kí điều hành và ghi chép quá trình thực hiện nhóm, tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát biểu ý kiến và suy nghĩ của mình một cách tự do và bình đẳng.

–   Giáo viên cần chuẩn bị một cách chủ động tích cực chương trình làm việc và thảo luận các nhóm sinh động và có hiệu quả, tạo bầu không khí chân thành, cởi mở trong thảo luận. Giáo viên chỉ can thiệp khi thấy cần thiết

–   Hết thời gian thảo luận các nhóm cử đại diện trình bày kết quả của nhóm

Nguyễn Thị Hạnh

Tin bài liên quan:

Cơ sở lí luận của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh