Danh mục lưu trữ: Tin tức

Văn bản pháp lý mới, chủ trương giáo dục mới, tình hình/ xu thế nguồn nhân lực, nghề nghiệp, thiết bị giáo dục cho các môn Lý, hóa sinh.

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được phê duyệt 27/7/2017


Đây là căn cứ để xây dựng dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.

Theo Bộ GD-ĐT, chương trình tổng thể sẽ được tiếp tục xem xét để ban hành chính thức cùng với các chương trình môn học và hoạt động giáo dục theo kế hoạch công bố vào tháng 9 tới.

Chương trình GDPT tổng thể chính thức không có nhiều thay đổi so với bản dự thảo mới đây nhất (21/7) mà VietNamNet đã đưa tin, song có nhiều thay đổi so với dự thảo được công bố hồi tháng 4/2017 để lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội.

5 phẩm chất, 10 năng lực

Cụ thể, Chương trình GDPT tổng thể không có nhiều sửa đổi về quan điểm xây dựng, mục tiêu, các yêu cầu về phẩm chất năng lực cho tới định hướng về nội dung giáo dục.

Chương trình tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.

Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:

Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh.

Hai giai đoạn giáo dục

Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).

Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn.

Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. Các cơ sở giáo dục có thể tổ chức dạy học 1 buổi/ngày hoặc 2 buổi/ngày.

Cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước.

Về kế hoạch giáo dục, về cơ bản, chương trình vừa được thông qua không có nhiều thay đổi so với dự thảo gần đây nhất.

Lựa chọn ngoại ngữ từ lớp 1

Ở cấp tiểu học, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc bao gồm: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lý (ở lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm (trong đó có nội dung giáo dục của địa phương).

Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun), nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

cap-1-moi
Kế hoạch và thời lượng giáo dục cấp tiểu học theo chương trình GDPT vừa được thông qua.

Như vậy, so với dự thảo hồi tháng 4, một số môn học đã được đổi tên, một số môn gộp lại thành môn mới, một số nội dung bị bỏ khỏi chương trình (hoạt động tự học có hướng dẫn) một số nội dung được lồng vào hoạt động khác chứ không đứng riêng thành nội dung động lập (nội dung giáo dục địa phương).

Về thời lượng, so với dự thảo hồi tháng 4, tổng số tiết trong năm học ở các lớp tiểu học giảm đi so với dự thảo trước từ 62-132 tiết/năm, tùy từng lớp.

Số tiết học trung bình tuần cũng giảm 2 tiết ở lớp 1, 2 (29 so với 31 tiết/tuần), giữ nguyên ở lớp 3 (31 tiết/tuần) nhưng tăng 1 tiết ở lớp 4, 5 so với dự thảo cũ (32 so với 31 tiết/tuần).

Nội dung đáng chú ý nhất ở cấp tiểu học là môn Ngoại ngữ 1 được đưa vào thành môn học tự chọn từ lớp 1.

Ngoài ra, chương trình cũng quy định rõ, cấp tiểu học sẽ thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học. Mỗi tiết học từ 35 phút đến 40 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.

Hướng nghiệp từ cấp THCS

Ở cấp THCS, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc bao gồm: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục công dân; Lịch sử và Địa lý; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương.

Mỗi môn học Công nghệ, Tin học, Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

So với dự thảo hồi tháng 4, chương trình vừa được thông qua không có nhiều thay đổi về tên môn học (chỉ có môn Công nghệ được rút gọn từ môn Công nghệ và Hướng nghiệp).

cap-2
Các môn học và thời lượng giáo dục cấp THCS của chương trình vừa được thông qua.

Về thời lượng, tổng số tiết học trong năm của cấp THCS giảm từ 58-78 tiết/năm, tùy từng lớp. Số tiết học trung bình tuần giữ nguyên ở lớp 6, 7 nhưng giảm nửa tiết ở lớp 8, 9.

Điểm mới nhất của kế hoạch giáo dục cấp THCS chính là nội dung hướng nghiệp được yêu cầu tích hợp vào các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc.

Ở lớp 8 và lớp 9, các môn học Công nghệ, Tin học, Khoa học tự nhiên, Nghệ thuật, Giáo dục công dân, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và Nội dung giáo dục của địa phương có học phần hoặc chủ đề về nội dung giáo dục hướng nghiệp.

Thay đổi mạnh ở cấp THPT

Giống như dự thảo hôm 21/7, chương trình vừa được thông qua có sự thay đổi rất lớn ở cấp THPT.

Theo đó, chương trình không tách cấp học này thành 2 giai đoạn với 2 tính chất (dự hướng và định hướng nghề nghiệp) như dự thảo công bố hồi tháng 4 mà dồn chung thành một giai đoạn chung, thông suốt từ lớp 10 đến lớp 12.

Cụ thể, giai đoạn này bao gồm các môn học bắt buộc là Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm, Nội dung giáo dục địa phương.

Trong đó, môn Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần. Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề. Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

cap-3-moi
Nội dung và thời lượng giáo dục cấp THPT theo chương trình vừa đuọc thông qua.

Học sinh sẽ được lựa chọn môn học định hướng nghề nghiệp từ lớp 10. Các môn học được lựa chọn chia thành 3 nhóm môn, học sinh chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn học trên, mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn.

– Nhóm môn Khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật.

– Nhóm môn Khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học.

– Nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật.

Điểm thay đổi quan trọng là thời lượng các chuyên đề học tập được đưa vào từ lớp 10 và có thời lượng tăng lên đáng kể.

Theo đó, mỗi môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật có một số chuyên đề học tập tạo thành cụm chuyên đề học tập của môn học giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.

Thời lượng dành cho mỗi chuyên đề học tập từ 10 đến 15 tiết. Tổng thời lượng dành cho cụm chuyên đề học tập của một môn là 35 tiết.

Ở mỗi lớp 10, 11, 12, học sinh chọn 3 cụm chuyên đề học tập của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường.

Chương trình vừa được thông qua cũng quy định, các trường có thể xây dựng các tổ hợp môn học từ 3 nhóm môn học và chuyên đề học tập nói trên để vừa đáp ứng nhu cầu của người học vừa bảo đảm phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.

Học sinh có thể đăng ký học ở một cơ sở giáo dục khác những môn học và chuyên đề học tập mà trường học sinh đang theo học không có điều kiện tổ chức dạy.

Về thời lượng giáo dục, chương trình quy định, cấp THPT mỗi ngày học 1 buổi, mỗi buổi không bố trí quá 5 tiết học. Mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

Đồng thời, khuyến khích các trường trung học phổ thông đủ điều kiện thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.

Đi mi đánh giá trở thành điều kiện thực hiện chương trình

Chương trình vừa được thông qua nêu rõ:

Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.

Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình.

Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụ công tác phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục.

Như vậy, nội dung việc đánh giá định kỳ không còn quy định việc giao xét tốt nghiệp THPT cho các cơ sở giáo dục như trong dự thảo hồi tháng 4.

Bên cạnh đó, nội dung việc đánh giá trên diện rộng sẽ do “tổ chức khảo thí” cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chứ không phải là “tổ chức kiểm định chất lượng” như trước.

Ngoài ra, trong phần “Điều kiện thực hiện chương trình”, Chương trình vừa thông qua có bổ sung thêm nội dung về đánh giá kết quả giáo dục, với nội dung:

“Phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục phải phản ánh mức độ đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực quy định trong chương trình; hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực của học sinh.

Việc đánh giá kết quả giáo dục để công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông bảo đảm độ tin cậy, trung thực, phản ánh đúng năng lực của học sinh, cung cấp dữ liệu cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; đồng thời bảo đảm phù hợp với quyền tự chủ của cơ sở giáo dục, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội”.

Advertisements

Ứng dụng mô hình STEM vào chương trình phổ thông mới


Để thúc đẩy mô hình giáo dục STEM vào chương trình phổ thông sắp tới một cách hiệu quả, cần phải giải quyết các bất cập từ cơ sở vật chất, tới cách thức thi cử.

Thi trắc nghiệm khó thúc đẩy dạy học STEM

Cách thức tổ chức các kỳ thi ảnh hưởng lớn tới việc dạy và học, do đó tác động tới việc biên soạn chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới.

Nhận định này được nhiều đại biểu đề cập tại hội thảo giáo dục STEM trong chương trình GDPT mới, hôm qua 25/7.

Trong bài tham luận “Chúng ta học được gì từ giáo dục STEM“, GS.TS Đỗ Đức Thái, Thành viên Ban Phát triển Chương trình GDPT tổng thể, Chủ biên chương trình môn Toán nêu ra những lưu ý về việc này.

Ông Thái cho rằng, kiểm tra đánh giá và thi cử cần tương thích với những tư tưởng cơ bản của giáo dục STEM. Thế nhưng nếp nghĩ “thi gì học nấy” là một trở lực lớn trong việc đưa giáo dục STEM vào nhà trường phổ thông.

Bên cạnh đó, trong hoàn cảnh thực tế về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý của giáo viên, cơ sở vật chất của các nhà trường, điều kiện kinh tế-xã hội của các địa phương,… việc khai thác, áp dụng những điểm mạnh của giáo dục STEM không đơn giản.

Chúng ta đã chuẩn bị các văn bản cần thiết chỉ đạo triển khai giáo dục STEM? Cán bộ quản lí các nhà trường phổ thông có thực sự quan tâm đến giáo dục STEM hay không? Bởi nếu không thì có thể viện dẫn rất nhiều lí do để không áp dụng” – ông Thái nêu vấn đề.

kasten

Trong bài tham luận trình bày kinh nghiệm triển khai giáo dục STEM tại Trường THCS – THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), bà Nguyễn Thu Anh, hiệu trưởng nhà trường cũng nhận thấy hình thức thi như hiện nay là một “khó khăn” đối với việc triển khai giáo dục STEM.

Cụ thể, kỳ thi THPT quốc gia thi được tổ chức bằng các bài thi trắc nghiệm, trong khi STEM là sản phẩm. Từ lớp 11 là phải “nói không” với STEM để ôn luyện thi trắc nghiệm “cho thật siêu” để sắp tới thi đỗ vào một trường ĐH.

Vì vậy, thay đổi chương trình thì dứt khoát phải thay đổi đánh giá. GS Thái nói rất đúng, học sinh hiện nay học để thi thôi, mục tiêu là làm sao đỗ được ĐH. Vì vậy, thay đổi cách đánh giá thì tính khả thi trong việc triển khai GD STEM mới có thể đạt được“.

Trong phần phát biểu kết luận, GS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên Chương trình GDPT mới khẳng định, ban soạn thảo cũng nhận thức rất rõ về tác động của các kỳ thi đến chương trình.

Chương trình này đòi hỏi học sinh đi vào thực tiễn rất nhiều, các em phải tham gia các dự án nghiên cứu khoa học. Nhưng đến lúc thi mà thi chung như thế này thì chỉ ra đề kiểm tra kiến thức, kỹ năng giải bài tập thôi. Như thế, làm sao giáo viên dành thì giờ dạy học sinh theo phương pháp STEM, chú trọng thực hành được?

GS Thuyết cho biết, trong dự thảo chương trình đã quy định việc thay đổi cách thức đánh giá, bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, sau đó, Hội đồng thẩm định có ý kiến cho rằng, Luật Giáo dục hiện hành vẫn đang quy định phải thi tốt nghiệp. Nghị quyết 88 cũng đề cập đến việc đổi mới cách thi và đánh giá.

Nếu quy định ngay trong chương trình GDPT mới thì sẽ liên quan tới luật và nghị quyết.

Vì vậy, ban soạn thảo đã chuyển phần “thi tốt nghiệp, tuyển sinh các lớp đầu cấp, tuyển sinh ĐH” ở phần “điều kiện thực hiện chương trình”.

Học sinh nông thôn học STEM thế nào?

ngoài cách thức thi và đánh giá, các đại biểu cũng nêu ra nhiều băn khoăn cũng như vướng mắc khi triển khai giáo dục STEM trong chương trình GDPT mới.

Ông Tô Văn Dũng, Phó Trưởng Phòng GD-ĐT Thái Thụy (Thái Bình) cho rằng, trường học ở nông thôn sẽ gặp khó khăn về cơ sở vật chất.

Nông thôn chúng tôi đủ phòng học là quý lắm rồi chứ không có phòng học với các thiết bị rồi tích hợp này kia. Các thiết bị để dạy học STEM lại càng không có“.

Ông Dũng kể, cách đây vài tháng có một tổ chức về trường ở Thái Thụy giới thiệu về lập trình robot, học sinh rất hào hứng, phấn khỏi nhưng khi nói đến giá tiền mỗi con robot như vậy là 6-7 trăm ngàn thì học sinh đều lắc đầu vì không có tiền.

Các trường thành phố dễ xã hội hóa thì việc nhà trường đầu tư 6-7 trăm ngàn để mua một con robot cho học sinh học đơn giản, còn ở nông thôn thì rất khó. Bỏ tiền mua thì không được vì nó không nằm trong danh mục thiết bị đã được Bộ quy định“.

Bộ thực hành kết hợp Lý Hóa sinh của Addestation
Bộ thực hành kết hợp Lý Hóa sinh của Addestation

Từ đó, ông Dũng cho rằng, khi có kế hoạch triển khai nội dung giáo dục STEM trong chương trình mới, ban soạn thảo cũng phải kiến nghị Bộ GD-ĐT bổ sung các thiết bị này vào danh sách thiết bị trường học để thuận lợi cho các trường.

Một số đại biểu khác cũng nêu ra những vấn đề về tập huấn giáo viên, nhận thức của các cán bộ quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh, quy định thời lượng, đồng bộ hóa chương trình…

“Định vị” STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới

GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, việc phát triển giáo dục STEM trong chương trình mới là tất yếu vì mục tiêu của chương trình STEM cũng là hình thành những phẩm chất năng lực mà chương trình GDPT đang hướng tới.

Tuy nhiên, giáo dục STEM là một phương pháp, mô hình giáo dục, chứ không phải là một môn học.

Do đó, sẽ dạy trong các chương trình chính khóa ở các môn học STEM (Toán, Công nghệ, Tin học) theo các chủ đề từng môn hoặc tích hợp liên môn

Hoặc cũng có thể tổ chức chức theo hình thức câu lạc bộ, hoạt động nghiên cứu khoa học…

Theo GS Thuyết, dạy như hiện nay theo cách “chẻ từng chữ trong SGK để dạy” thì STEM không có chỗ, nhưng nếu học sinh tự đọc tài liệu, tự thực hành để có hiểu biết, năng lực vận dụng vào thực tiễn thì đó là giáo dục STEM.

Với việc “chương trình hóa” giáo dục STEM, sắp tới, các chương trình môn học sẽ ra chủ đề có thể dạy STEM, gợi ra phạm vi nghiên cứu khoa học của học sinh. Đây là vấn đề không chỉ của môn Công nghệ mà còn ở tất cả các môn học theo phương pháp STEM.

GS Thuyết cũng khẳng định, khi “chương trình hóa” giáo dục STEM, ban soạn thảo cũng sẽ kiến nghị các chính sách, chế độ, quy định kèm theo; từ việc định biên giáo viên, kinh phí cho tới bổ sung danh mục thiết bị và tập huấn cho giáo viên về giáo dục STEM.

 

Giáo dục Việt nam sẽ đi về đâu?


Hồi còn đi học tôi ước được đi làm sớm vì nó có nghĩa là có thu nhập, không phải xin tiền bố mẹ; cũng có thể tự quyết thay vì phải phụ thuộc vào bố mẹ. Rồi lớn lên cũng tự hỏi, cần quái gì phải mất những 12 năm mài đít trên ghế nhà trường sau đó 5 năm mài mông trên giảng đường đại học để rồi khi đi làm thì những thứ đã học xếp trong ngăn kéo.

Đến giờ cũng vẫn tự hỏi, có đáng phải mất 16 năm học chỉ để chuẩn bị cho 28 năm đi làm và 20 năm sống lay lắt ở tuổi nghỉ hưu không?

Có người sẽ phản biện là 16 năm đi học là để thưởng thức cuộc đời. 28 năm sau đi làm để nuôi những thằng đi học khác 18 năm. Đại loại phải hiểu rằng 16 năm là 16 năm của hưởng lạc. Thế nhưng cái bọn học trò thì không nghĩ thế. Những căng thẳng của học hành thi cử chẳng có vui vẻ gì.

Có người sẽ bảo 16 năm là để hình thành nhân cách con người. Ừ nghĩ cũng đúng, bảo thằng cu nhà mình năm nay học hết lớp 4 đi làm chắc chẳng ai nhận. Nhưng có vẻ sau 18 tuổi là đi làm kiếm tiền được rồi. Đằng này các bố lại còn đi học đại học tới năm 22 tuổi, rồi có bố còn đi học tiếp thạc sỹ tới năm 24 tuổi, rồi tiếp tục học Tiến sỹ tới năm 28 tuổi, rồi tiếp tục học ..đại tiến sỹ tới năm 30 tuổi. Tới năm 30 tuổi bước ra khỏi cổng trường cóc hiểu cuối cùng mình học để làm gì. Ngậm ngùi vật vã 20 năm ở một cái viện nào đó, mong ngóng tới ngày được về hưu.

Nói gì thì nói chứ học như thế là thừa. Nhà nước ta đang tiến hành chương trình đổi mới giáo dục. Chắc đầy người nghĩ rằng học 8 năm phổ thông + 4 năm dạy nghề, cao đẳng, đại học,… gì đó là quá đủ. 18 tuổi vứt chúng nó ra trường đời. Tạo ra thêm của cải xã hội thay vì tiêu sài nó.

Tuy nhiên các chính trị gia sẽ giẫy nẩy lên ngay. Mẹ, cái đống trong độ tuổi lao động tao còn chưa kiếm được việc làm cho nó, mày lại còn đẩy một lúc 2 triệu con người vào thị trường lao động trong một năm nữa thì ai mà chịu được. Thà cứ để nó học những cái vô bổ trên giảng đường nào đó còn hơn, đẩy nó ra đường nó không có việc đâm ra trộm cắp chém giết, thêm tệ nạn xã hội.

Nếu như Việt Nam được vận hành như một doanh nghiệp thực thụ thì các CEO chắc sẽ theo phương án cắt giảm tối đa thời gian học tập. Sau đó tối ưu hóa thời gian học tập bằng cách cắt đi các môn học không cần thiết và thêm vào các môn học cần thiết cho cuộc sống.

Nhưng ở cái nước này, ai ai cũng muốn có ý kiến mà chẳng chịu nghe ai đâm ra chính phủ phải theo các luồng tư tưởng được đông đảo mọi người ủng hộ. Quyết định của đám đông thường không đáng tin nhưng nó là phương pháp an toàn nhất.

Mới tháng trước, Bộ GD mới chỉ có một ý tưởng nho nhỏ là bỏ biên chế đối với giáo viên nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, vận hành theo cung cầu. Ấy thế mà báo đài nhao nhao lên phản đổi để đến nỗi đầu tuần bộ trưởng phải trấn an dư luận rằng đấy chỉ mới là ý tưởng, và rằng chỉ áp dụng thí điểm cho các trường đại học, các trường phổ thông ở thành phố, chắc chắn không áp dụng các trường ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Một bước lùi nhưng thực ra là một bước tiến.

Việc bỏ biên chế đối với giáo viên nói riêng và toàn bộ hệ thống công chức viên chức Việt Nam nói chung là một việc không sớm thì muộn cũng sẽ diễn ra. Các nước đang hùng hục cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mà chúng ta còn đang có tới 11 triệu người ăn lương nhà nước, trong đó có tới 1/3 đang làm dưới chuẩn, làm ít hơn nhiều so với mức lương được nhận (mặc dù mức lương đó không phải là cao).

Việc giảm môn học hay giảm số năm học mắc chính là ở đội ngũ giáo viên thừa ra không biết đi đâu về đâu. Nếu như bỏ biên chế thì Bộ GD có thể thoải mái hơn trong việc sắp xếp lại chương trình. Sức ép của 1,24 triệu giáo viên lên đôi vai của Bộ sẽ giảm đi. Nó sẽ giúp cho các em học sinh không phải học những môn học chỉ vì nếu không học thì nhà trường không biết điều chuyển giáo viên đó về đâu.

Nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng 4.0 đòi hỏi phải đào tạo ra những con người sáng tạo trong khi hệ thống của chúng ta đang theo hướng đào tạo ra những con người của cuộc cách mạng 2.0, những người có thể ghép vào một dây chuyển sx nào đó, bắt buộc phải làm một việc nào đó mà không được phép sáng tạo.

Chúng ta chỉ có thể đi tắt đón đầu nếu như các em học sinh được tự do sáng tạo. Được tự do phát triển theo những tố chất sẵn có của mỗi em. Được tự mình quyết định cái nào đúng cái nào sai thông qua trải nghiệp thực tế. Được hoạt động thay vì ngồi yên trật tự nghe cô giáo giảng bài. Đi học tay không thay vì cặp sách nặng trĩu. Được thực hành trên các thiết bị hiện đại thay vì những thiết bị của cách đây 20 năm.

image_amixermga

10 năm tới sẽ khác với 10 năm qua, chúng ta buộc phải hòa nhịp với thế giới nếu muốn tồn tại. Những doanh nghiệp sáng tạo, những con người sáng tạo vẫn đang ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam. Họ sẽ là tấm gương để chúng ta thấy rằng, người Việt Nam rất giỏi thích nghi và họ sẽ thích nghi được với cuộc cách mạng lần này.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?


Trong 3 năm trở lại đây, cụm từ “Cách mạng công nghiệp 4.0” được người ta nhắc đi nhắc lại trên tivi, đài báo. Mỗi người trong chúng ta có những cách hiểu khác nhau về cuộc cách mạng công nghiệp này và có những phản ứng khác nhau.

Chúng ta lo sợ cho công ăn việc làm của mình sẽ mất đi, bao công sức học hành đổ sông đổ bể. Đành rằng như Phó thủ tướng Vũ Đức Đam có nói rằng trong lịch sử, các cuộc cách mạng công nghiệp từ 1 tới 3 làm mất đi một số công việc nhưng nó cũng tạo thêm ra một số công việc khác. Và thường tổng lượng công việc sau cuộc cách mạng lớn hơn nhiều so với trước cuộc cách mạng.

Nhưng chúng ta thừa hiểu rằng đó là xét trên quy mô cả nước. Còn xét mỗi cá nhân chúng ta, chắc gì công việc mới kia đã tới lượt chúng ta? Chúng ta chắc gì đã có thể học hỏi trong một thời gian ngắn để đáp ứng công việc đó?

Để hiểu hơn nguy cơ và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chuyên trang về thiết bị thí nghiệm dùng cảm biến sẽ làm một bài viết ngắn để các bạn có thể hiểu được.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là gì?

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào thế kỷ 17 với động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào thế kỷ 18 với sự phát minh của động cơ đốt trong, động cơ điện. Cuộc cách mạng lần thứ 3 diễn ra vào thế kỷ 19 khi người ta phát minh ra vật liệu bán dẫn và phương thức sx theo dây truyền.

Chúng ta để ý rằng mỗi cuộc cách mạng đều được bắt đầu bởi một phát minh mang tính căn bản. Phát minh đó làm cơ sở để sinh ra các phát minh khác. Từ đó thay đổi hẳn phương thức sản xuất, phương thức mới giúp năng suất lao động tăng lên. Cùng một nhân công thì khối lượng sản phẩm tạo ra gấp nhiều lần so với trước đó.

Cuộc cách mạng 4.0 manh nha từ những chiếc máy tính đầu tiên vào giữa thế kỷ 20 nhưng thực sự gọi là bắt đầu bởi việc phát triển bùng nổ của Internet. Cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm:

  1. Vạn vật kết nối: Các thiết bị được kết nối với nhau bởi internet. Bạn có thể theo dõi căn nhà của mình, ra lệnh cho một thiết bị nào đó trong nhà hoạt động. Người quản lý có thể theo dõi tình trạng của máy móc trong nhà xưởng cách anh ta cả nửa vòng trái đất.
  2. Điện toán đám mây: Trước đây mỗi máy chủ được gán cho một chức năng nào đó, ví dụ như máy chủ dữ liệu, máy chủ web, máy chủ mail.,..Ngày nay không có khái niệm đó, chỉ có một tập hợp các máy chủ. Người dùng sẽ không biết dữ liệu được lưu trữ ở máy nào. ở quy mô thế giới, google có hàng trăm các nhà máy,  trong mỗi nhà máy là hàng nghìn các máy chủ hoạt động ngày đêm. Khi bạn dùng các dịch vụ của google, bạn không biết được là đang giao tiếp với máy chủ nào và ở đâu.
  3. Dữ liệu lớn: trước đây có khái niệm dữ liệu tập trung nhưng vì dữ liệu tập trung đòi hỏi máy chủ data cũng phải lớn và tốc độ truy xuất dữ liệu cũng chậm nên dữ liệu tập trung chỉ có thể thực hiện ở quy mô nhỏ. Ngày nay nhờ có điện toán đám mây, tốc độ các bộ vi xử lý mà dữ liệu được tập trung ở mức vô cùng lớn.  Nó sẽ giết chết các nghề xuất phát từ kinh nghiệm như bác sĩ, luật sư, tư vấn tài chính,..
  4. Trí tuệ nhân tạo, tự động hóa: Xuất phát từ sự phát triển của các cảm biến khiến cho máy móc có thể nhận biết được những thay đổi chung quanh. Tiến thêm một bước nữa là thêm khả năng tự học hỏi, máy móc có thể tự mình học qua trải nghiệm thực tế thay vì hành động theo những cài đặt từ trước đó của con người.

Trước đây các nước phát triển chuyển nhà máy của họ sang các nước đang phát triển để tận dụng nhân công giá rẻ. Giờ đây họ đầu tư máy móc tự động tại chính đất nước họ. Họ chỉ phải trả lương cho vài người điều khiển do vậy họ không cần lao động giá rẻ nữa. Công việc sẽ bị kéo về các nước phát triển. Điều này tất yếu dẫn tới công việc đòi hỏi chất xám ít sẽ mất đi.

Mỗi nước hiện nay đều đang xây dựng hẳn một chiến lược tương ứng để phán ứng trước cuộc cách mạng. Việt Nam sẽ làm được gì khi đang ở xuất phát điểm rất thấp. Trước chúng ta nghĩ có thể đi tắt đón đầu nhưng thực tế không đơn giản thế.

Kinh tế tri thức trước đây vẫn có chỗ cho những người tri thức kém nhưng giờ điều đó không còn nữa. Cách mạng sẽ đẩy tất cả mọi người phải học hỏi để bước vào vùng tri thức, nếu không họ sẽ ở tầng đáy của xã hội.

Trước đây điều khiển một dây truyền máy móc đòi hỏi nhiều kỹ năng, ngày nay người ta chỉ cần thuê một người tốt nghiệp cấp 3 điều khiển một hệ thống máy móc tự động hàng triệu đô. Công nghệ càng phát triển càng ít phụ thuộc vào con người điều khiển nó. Và bạn hãy tượng tượng điều này sẽ dẫn tới đâu?

Hãy nhìn trên phạm vi toàn thế giới, mỗi một sản phẩm/dịch vụ hiện nay chỉ xuất phát từ một số thương hiệu. Hồi xưa nhờ ngăn sông cấm chợ mà cứ mỗi vùng có một thương hiệu riêng, vẫn có đất sống cho các công ty dưới trung bình. Ngày nay chỉ có các công ty giỏi nhất mới sống và họ bán trên toàn thế giới.

Và giờ đây những thương hiệu đó sản xuất hoàn toàn tự động bằng máy móc. Đành rằng ta sẽ có thể mua sản phẩm với giá ngày càng rẻ hơn nhưng thu nhập của chúng ta sẽ ngày càng thấp đi. Nguyên nhân là thế đàm phán của các ông chủ sẽ ngày càng tăng cùng với lượng thất nghiệp ngày càng nhiều. Một cách tương đối, chúng ta sẽ mua ngày càng đắt hơn chứ không phải rẻ hơn như ta tưởng.

Nhiều công ty chết đi. Các công ty sống thì cần rất ít nhân công. Kết quả là lượng công việc sinh ra thì ít mà mất đi thì nhiều. Thất nghiệp sẽ gia tăng.

Phân hóa giàu nghèo trong một đất nước. Phân hóa giàu nghèo giữa các nước với nhau. Tất yếu dẫn tới khủng bố, cướp bóc, trộm cắp. Mức độ an toàn của người dân sẽ ngày càng kém đi.

Chúng ta đang ở giữa tâm của cuộc cách mạng. Nó là cơ hội và cũng là thách thức vô cùng lớn.

Thách thức đó là trong giai đoạn này công việc mới thì chưa thấy đâu nhưng công việc cũ thì đã mất đi rồi. Công việc mà bạn đang làm cho dù có là ở đâu thì cũng sẽ rất bấp bênh.

Cơ hội là vì chúng ta đang ở những xuất phát điểm như nhau. Chúng ta đều có cơ hội để vươn lên tận dụng cuộc cách mạng. Ít nhất là không để nó nhấn chìm. Mỗi người trong chúng ta phải nhận thức được chúng ta đang ở đâu, và nên đi về đâu.

 

Giáo dục kiểu Singapore và tấm gương nhà lãnh đạo Lý Quang Diệu


Bài học từ tấm gương nhà lãnh đạo Singapore Lý Quang Diệu

Những năm 1965 trở về trước, Singapore có nền kinh tế xã hội khó khăn và nghèo nàn do nằm dưới sự cai trị của Anh và phụ thuộc Malaysia. Với 2 triệu dân tồn tại trên 1 hòn đảo rộng chỉ 640 km2, không có thị trường nội địa, nước ngọt phải mua Singapore vẫn là vùng đất nghèo nàn, cằn cỗi.

Tầm nhìn xuất chúng của ông Lý được thể hiện ở sự thừa nhận từ rất sớm rằng, Singapore phải có cái nhìn vượt xa khỏi các nước láng giềng và xuất khẩu những mặt hàng chất lượng cao sang các nền kinh tế phương Tây và Nhật Bản.

ly quang dieu

Nhà lập quốc Singapore Lý Quang Diệu. (Ảnh: Therealsingapore.com)

Cùng với những nước được gọi là “con hổ châu Á” khác, Singapore đã tập trung vào chấn chỉnh và củng cố các yếu tố nền tảng của kinh tế: khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, duy trì lạm phát và thuế ở mức thấp, giữ ổn định tiền tệ và đặc biệt chú trọng giáo dục chất lượng cao. Và ngày nay, những điều này được xem như sự thông thái được chấp nhận rộng rãi.

Các nguyên lý cốt lõi được ông Lý thực thi – gồm chú trọng vào một chính phủ trong sạch, hiệu quả, các chính sách kinh tế thân thiện với doanh nghiệp và đảm bảo trật tự xã hội – đã giúp thu hút một lượng khổng lồ đầu tư nước ngoài cùng rất nhiều doanh nghiệp lớn bậc nhất thế giới tới Singapore, sau khi ông trở thành thủ tướng từ năm 1959.  Nhờ vào tài năng kiến tạo tuyệt vời của Ông Lý Quang Diệu và các cộng sự. Singapore của những năm 1990 là nước duy nhất nằm trong thế giới thứ 3 nhưng có mức thu nhập của các nước thế giới thứ nhất, các nước G7, thậm chí nhiều tiêu chí còn hơn thế. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người của Singapore năm 1959 khi Ông Lý Quang Diệu nhậm chức chỉ có 400 USD, sau khi ông từ nhiệm năm 1990 là 12.000 USD/người/năm và năm 1999 là 22.000 người năm. Hiện nay, thu nhập bình quân/người của Singapore xếp trên Mỹ với 55.000 USD/người/ năm.

Từ một luật sư, Ông Lý Quang Diệu (1923  – 2015) đã trở thành nhà lập quốc vĩ đại của Singapore. Ông đã để lại cho đất nước, người dân quốc đảo này một di sản vô cùng to lớn: một đất nước xanh – sạch – đẹp, một xã hội hài hòa, công bằng văn minh, một môi trường sống, kinh doanh vào bậc tốt nhất thế giới và một nền giáo dục hội nhập phát triển với các thế hệ tương lai hoàn tự lập.

…Đến triết lý giáo dục hiện nay của Singapore                                                                  

Để có được nền Giáo dục phát triển như hiện nay, Chính phủ Singapore đã có những sự ưu tiên hơn cả cho lĩnh vực Giáo dục. Singapore dành 1/5 GDP đầu tư vào giáo dục và con số này hiện nay vẫn tiếp được duy trì. Năm 2004, trong bài diễn văn chào mừng Quốc khánh Singapore Thủ tướng Lý Hiển Long tiếp tục đưa ra  định hướng mới cho nền giáo dục Singapore, đó là: “Phải dạy ít hơn để học sinh học được nhiều hơn”, cụ thể:

Giáo dục cần hướng đến phục vụ nền kinh tế hướng ngoại

Theo báo cáo The Learning Curve 2014 của Công ty Giáo dục Pearson, hệ thống giáo dục Singapore đứng hạng 3 ở châu Á, chỉ sau Hàn Quốc và Nhật Bản.

Mục tiêu của hệ thống giáo dục Singapore chủ yếu là cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, qua đó tạo ra sức cạnh tranh cao. Tầm nhìn này được Ông Lý Quang Diệu phát triển ngay từ đầu nhiệm kỳ thủ tướng của mình. Đó cũng là một trong những bí quyết thành công của Singapore mà ông Diệu thường nhấn mạnh. Để tạo chỗ đứng vững chắc về mặt kinh tế, theo các nhà lãnh đạo Singapore, cần có 3 yếu tố: Làm chủ (tìm kiếm cơ hội và tính toán kỹ rủi ro), đổi mới (luôn có sản phẩm mới và tạo giá trị gia tăng) và quản lý(mở thị trường mới và các kênh phân phối). Có thể nói, ngay từ đầu chính phủ Singapore đã kiên trì xây dựng một nền giáo dục mang tính định hướng rất rõ: Phục vụ kinh tế hướng ngoại. Để đề cao chất lượng nguồn nhân lực, người đứng đầu Chỉnh phủ  Singapore khẳng định: “Dân số học chứ không phải dân chủ sẽ là yếu tố then chốt cho an ninh thế kỷ XXI”.

Giáo dục Singapore hướng đến việc dạy ít để học nhiều

Giáo dục Singapore đi từ thấp lên cao theo 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có một nhiệm vụ cụ thể. Trong giai đoạn đầu (1959-1978), mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo “công dân hữu ích, người tốt”. Trong giai đoạn 2 (1979-1996), Singapore tiến hành cải cách giáo dục, dùng sách giáo khoa chất lượng cao, đa dạng hóa bậc phổ thông trung học hướng tới đào tạo lực lượng lao động có tay nghề, sinh viên kỹ thuật và khoa học. Giai đoạn này đã mang lại nhiều kết quả khả quan: học sinh bỏ lớp giảm còn 6%, số học sinh thi đậu chứng chỉ “O Level” tiếng Anh (điều kiện để đăng ký vào các trường bách khoa học lấy bằng chuyên ngành điện, điện tử, xây dựng, cơ khí, quản trị kinh doanh…) đạt 90% năm 1984 và năm 1995, sinh viên Singapore luôn ở tốp đầu các kỳ thi toán và khoa học thế giới.

Từ năm 1997 đến nay, giáo dục Singapore chuyển hướng mạnh, nhắm tới sáng tạo, đổi mới và nghiên cứu. Hơn 1 triệu nhà khoa học, kỹ thuật và quản lý cao cấp người nước ngoài được mời đến giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học và viện nghiên cứu Singapore. Cũng trong giai đoạn này, Singapore thực thi tầm nhìn chiến lược “Thinking School, Learning Nation” (Nhà trường tư duy, Quốc gia học tập) như một định hướng đổi mới giáo dục. Vế đầu có nghĩa là nhà trường trở thành nơi phát huy tư duy sáng tạo, say mê học tập cả đời và hun đúc tinh thần phục vụ đất nước. Trong vế thứ hai, học tập trở thành văn hóa quốc gia, óc sáng tạo và đổi mới ăn sâu vào mọi tầng lớp xã hội. Khi triển khai tầm nhìn mới này đầu năm 1997, Thủ tướng Goh Chok Tong tin rằng “sự thịnh vượng của Singapore trong thế kỷ XXI tùy thuộc vào khả năng học tập của toàn dân”.

Và đến phát biểu liên quan tới giáo dục tại Việt Nam của Ngài Lý Quang Diệu

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi năm 2007, nguyên Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã gợi mở nhiều ý tưởng, đặc biệt về vấn đề giáo dục. Ông từng khẳng định với Chủ tịch nước Nguyên Minh Triết rằng: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế”. Theo ông Lý, chìa khóa để tránh tụt hậu trong thế giới hiện nay là tiếng Anh. Ông cho rằng, Việt Nam cần kiên trì theo đuổi chính sách “nhiều tiếng nói, một ngôn ngữ” để đưa tiếng Anh vào trường học. “Ngày nay, Singapore có lợi thế lớn là nhờ vậy. Đây là phần thưởng ngoài dự đoán của Singapore khi thực hiện quy định này. Việt Nam nên có sách giáo khoa tiếng Anh ở các ngành quan trọng như kỹ thuật, công nghệ… bởi nếu chỉ dùng sách Việt Nam, chắc chắn sẽ tụt hậu. Nếu tất cả sinh viên Việt Nam sau này không thể nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, chỉ có thể đọc thôi cũng đã là tụt hậu”, cựu Thủ tướng Singapore nhận định.

Ông Lý từng đưa ra nhận định xác đáng khi cho rằng, chính kiến thức đem lại cho bạn cuộc sống tốt đẹp: “Bạn phải xác định rõ ràng rằng kiến thức, học tập và ứng dụng kiến thức vào công việc là cái đem lại cho bạn một cuộc sống tốt. Ngược lại, những ai nghĩ rằng có thể trông cậy vào các mối quan hệ thân sơ, sự luồn lách, gian dối, người đó sẽ gặp trắc trở bởi đã xem nhẹ việc trau dồi tri thức”.

Có thể học hỏi được gì ở nền giáo dục Singapore thiên về thực hành hơn kiến thức chung chung? Theo giáo sư Yuma, đây là một thách thức lớn đối với đa số các nước đang phát triển – vốn có hệ thống giáo dục không phản ánh yêu cầu của doanh nghiệp trong thời đại mới và đây cũng là câu hỏi rất đáng suy ngẫm với các bạn sinh viên Việt Nam, những chủ nhân tương lai của đất nước./.

Từ 2018 sẽ áp dụng chương trình – sách giáo khoa mới


Ông Nguyễn Vinh Hiển, thứ trưởng Bộ GD-ĐT, khẳng định như thế tại cuộc họp báo chiều 22-4 về việc biên soạn chương trình – sách giáo khoa (SGK) phổ thông, với nhiều điểm mới so với chương trình – SGK hiện hành.

Trao đổi về những điểm mới khác biệt rõ nhất so với chương trình – SGK phổ thông hiện hành, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh: Điểm mới nhất của chương trình – SGK phổ thông mới là định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học.

Yêu cầu dạy học sẽ phức tạp hơn

“Với chương trình mới, việc hình thành năng lực cho học sinh nằm ở tất cả các khâu từ nội dung dạy học đến phương pháp dạy học, đánh giá, tổ chức hoạt động. Như vậy, việc tổ chức dạy học sẽ phức tạp hơn trước” – ông Hiển giải thích.

Chương trình giáo dục phổ thông sẽ có hai giai đoạn. Giai đoạn 1 – giáo dục cơ bản – gồm chín năm, bao gồm cấp giáo dục tiểu học và THCS.

Giai đoạn này ngoài việc hình thành năng lực, kỹ năng cơ bản cho học sinh sẽ chú trọng việc hình thành khả năng tự học, bước đầu gợi mở cho học sinh nhận thức về sở thích và nghề nghiệp tương lai, để tác động vào việc phân luồng sau giai đoạn giáo dục cơ bản.

nguyenvinhhien

Giai đoạn 2 – giáo dục định hướng nghề nghiệp – gồm ba năm cuối cấp phổ thông sẽ giảm các môn học bắt buộc, tăng cường dạy học theo chuyên đề tự chọn để định hướng nghề nghiệp, tiếp cận với yêu cầu đào tạo nghề nghiệp sau này.

Với mức kinh phí hơn 778 tỉ đồng đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ GD-ĐT sẽ cùng Bộ Tài chính xây dựng thông tư quy định từng khoản chi cụ thể để đảm bảo sự minh bạch trong việc biên soạn chương trình phổ thông.

Kinh phí này không bao gồm việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đào tạo mới đội ngũ giáo viên.

 (Theo Bộ GD-ĐT)

Theo ông Nguyễn Vinh Hiển, đi kèm với chương trình theo định hướng mới, việc tổ chức dạy học, đánh giá học sinh cũng đa dạng, không chỉ dạy học trên lớp mà dạy học theo dự án, hoạt động trải nghiệm, việc đánh giá cũng không căn cứ vào bài kiểm tra, bài thi mà có thể đánh giá qua chất lượng các dự án, sản phẩm nghiên cứu, vận dụng kiến thức vào thực tế, qua hoạt động trải nghiệm…

“Sẽ có nhiều quan điểm cần thay đổi căn bản. Ví dụ như việc đánh giá các môn năng khiếu của học sinh sẽ khác nhau, trên cơ sở tôn trọng, phát huy năng khiếu riêng của từng cá nhân người học.

Giáo dục thể chất sẽ không chỉ là môn bắt buộc học sinh đạt được các yêu cầu của môn thể dục thể thao mà chú trọng vào việc hình thành sự yêu thích rèn luyện thân thể, có lối sống lành mạnh” – ông Hiển nói.

“Với yêu cầu dạy học phức tạp hơn, liệu cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên hiện nay có thể đáp ứng được không? Bộ GD-ĐT làm thế nào để sau ba năm nữa, chuẩn bị đủ điều kiện triển khai chương trình – SGK mới?”, trả lời câu hỏi của báo chí, ông Nguyễn Vinh Hiển cho biết 80% giáo viên phổ thông hiện nay có thể đáp ứng được chương trình mới, chỉ cần được tập huấn kỹ. Bộ GD-ĐT cũng làm việc với các trường sư phạm trọng điểm để cùng tham gia biên soạn chương trình, đồng thời nắm được cốt lõi của việc đổi mới, điều chỉnh chương trình đào tạo, cung cấp đội ngũ giáo viên mới bổ sung cho lực lượng dạy học các năm sau này.

Ông Hiển cũng khẳng định việc thiết kế chương trình với số lượng giờ dạy/môn học sẽ không làm xáo trộn hoạt động dạy học ở các nhà trường. Cụ thể sẽ không có chuyện thừa giáo viên ở những môn học phải tích hợp thành môn mới.

Khắc phục “quy trình ngược”?

Theo ông Đoàn Văn Ninh – phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ GD-ĐT, thường trực ban soạn thảo chương trình – SGK phổ thông sẽ rút kinh nghiệm từ bài học khi biên soạn chương trình – SGK trước đây, lần đổi mới này sẽ tách hẳn hai khâu biên soạn chương trình và biên soạn SGK.

Giải thích rõ hơn, ông Nguyễn Vinh Hiển cho biết: Bộ GD-ĐT sẽ phê duyệt chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trước, sau đó mới phê duyệt các chương trình môn học, dự kiến chậm nhất vào tháng 6-2016 sẽ hoàn thành.

Tuy nhiên, để không chậm trễ thì việc biên soạn chương trình tổng thể sẽ cùng tiến hành với chương trình môn học.

“Liệu có tái diễn một quy trình ngược không, khi chương trình môn học được khởi động trong lúc chương trình tổng thể chưa hoàn thành và chưa được phê duyệt?”, trả lời Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Vinh Hiển cho biết:

“Về định hướng chung thì các nhóm biên soạn đều đã nắm được, đây là cơ sở cho việc biên soạn. Chương trình dạy học vẫn có thể triển khai song song với chương trình tổng thể, nhưng sẽ không được áp dụng dạy học ngay mà phải chờ để so sánh với chương trình tổng thể đã phê duyệt mới chính thức ban hành”.

Tương tự, lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết hiện vẫn tiếp tục xây dựng tiêu chí tuyển chọn người tham gia ban soạn thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình môn học.

Tuy nhiên, hai chương trình trên đều đã đang xây dựng và “cơ bản tạo được đồng thuận, nhất trí cao” (trích tài liệu của Bộ GD-ĐT).

Giải thích về sự không ăn khớp này, ông Hiển thừa nhận hiện nay vẫn chưa có quyết định thành lập ban soạn thảo chương trình.

Tuy nhiên, Bộ GD-ĐT vẫn mời người theo yêu cầu đặt ra về phẩm chất, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn dạy học để dự thảo chương trình, trên cơ sở đó tiến hành thảo luận, góp ý, chỉnh sửa.

Ban soạn thảo chính thức (được Bộ GD-ĐT có quyết định thành lập) sẽ có trách nhiệm rà lại lần cuối trước khi ban hành.

Ông Nguyễn Vinh Hiển cho biết thêm lần đổi mới này sẽ có một tổng chủ biên kiểm soát toàn bộ việc biên soạn chương trình từ tổng thể đến các môn học.

Ngoài ra có tổng chủ biên theo chiều ngang (các môn học trong một lớp, cấp học) nên sẽ tránh được việc xây dựng chương trình trùng lặp, quá tải.

Về việc biên soạn SGK, ông Hiển cho biết ngoài một số NXB, hiện nay đã có Sở GD-ĐT TP.HCM có văn bản gửi về Bộ GD-ĐT xin được biên soạn một bộ SGK.

Để có sự thống nhất chung giữa các bộ SGK, Bộ GD-ĐT đề nghị các tổ chức, cá nhân gửi bộ đề cương SGK về bộ để bộ góp ý, cho ý kiến trước khi thực hiện.

Dự kiến năm học 2018-2019 sẽ có bộ SGK mới cho các lớp 1, 6, 10 được đưa vào dạy học và thực hiện cuốn chiếu vào các năm học tiếp theo.

Giáo viên phổ thông tham gia đến đâu?

Theo một thành viên ban chỉ đạo biên soạn chương trình – SGK của Bộ GD-ĐT, một điểm mới của lần đổi mới này là sẽ để giáo viên phổ thông tham gia với số lượng nhiều hơn và sâu hơn vào việc biên soạn, phản biện.

“Trước đây cũng đặt ra việc đưa giáo viên phổ thông vào công việc biên soạn, phản biện nhưng thực chất vai trò mờ nhạt” – thành viên này nói.

Tuy nhiên, tại cuộc họp báo, ông Nguyễn Vinh Hiển lại cho biết:

“Thành phần là giáo viên phổ thông sẽ có, nhưng không thể chiếm tỉ lệ nhiều ở khâu biên soạn. Vì để biên soạn chương trình cần người có tầm nhìn rộng hơn, am hiểu cả về khoa học và thực tiễn dạy học. Những người như thế không có nhiều.

Vì thế tỉ lệ giáo viên tham gia biên soạn chương trình sẽ hạn chế hơn các thành phần khác. Bộ GD-ĐT sẽ ưu tiên mời những nhà giáo dục có tầm về khoa học nhưng am hiểu giáo dục phổ thông”.

Làm thế nào để tránh được bất cập chương trình xa rời thực tiễn dạy học, khi đội ngũ biên soạn quá ít giáo viên trực tiếp giảng dạy?

Về việc này, ông Hiển cho biết Bộ GD-ĐT sẽ tăng cường việc trưng cầu ý kiến giáo viên theo các kênh khác nhau, nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến xác đáng để hoàn chỉnh chương trình.

Thủ tướng phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển con người Việt Nam.

Theo quyết định của Thủ tướng, chương trình mới, sách giáo khoa mới sẽ được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu… cho mỗi học sinh.

Chương trình mới, sách giáo khoa mới sẽ lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự học của học sinh; tăng cường tính tương tác trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo.

sachgiaokhoa-1398390555144-5196-1428717246

Chương trình cũng tiếp nối, liên thông giữa các cấp học, môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; đồng thời đảm bảo giảm tải, thiết thực, kế thừa ưu điểm của chương trình hiện hành và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của các nước giáo dục phát triển, đảm bảo hội nhập quốc tế.

Thủ tướng cũng đồng ý sẽ có một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa. Sau đó, nhà trường, giáo viên sẽ lựa chọn những bộ sách phù hợp.

Thủ tướng nhắc nhở, chương trình mới, sách giáo khoa mới phải đáp ứng yêu cầu của giai đoạn giáo dục cơ bản, trang bị tri thức phổ thông nền tảng toàn diện và thực sự cần thiết. Giai đoạn giáo dục nghề nghiệp phải đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp phù hợp với năng lực, nguyện vọng và chủ động tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị tốt cho giai đoạn giáo dục sau phổ thông.

Chương trình mới, sách giáo khoa mới được biên soạn theo hướng tích hợp ở các cấp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học, cấp học trên; đáp ứng yêu cầu và góp phần tạo động lực đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới thi, kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục.

Theo quyết định phê duyệt, đề án trên được thực hiện trong 3 giai đoạn từ năm 2015 đến 2023. Cụ thể, từ năm học 2018-2019, bắt đầu triển khai áp dụng chương trình mới, sách giáo khoa mới theo hình thức cuốn chiếu đối với mỗi cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.